Generic selectors
Exact matches only
Search in title
Search in content
Post Type Selectors
×

Đang quét mã...

Di chuyển camera vào mã vạch sản phẩm

×

SẢN PHẨM

Thuốc Januvia 50mg MSD hỗ trợ chế độ ăn kiêng, cải thiện kiểm soát đường huyết (2 vỉ x 14 viên)

905862

Thành phần

Thành phần Hàm lượng
Sitagliptin 50mg

Công dụng

Chỉ định

Thuốc Januvia 50 mg được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:

  • Đơn trị liệu: Januvia được dùng như liệu pháp hỗ trợ cho chế độ ăn kiêng và vận động thể lực để cải thiện kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2.
  • Kết hợp với metformin/sulfamide hạ đường huyết/chất chủ vận PPARγ: Januvia được chỉ định ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 để cải thiện kiểm soát đường huyết bằng cách kết hợp với các thuốc trên khi các thuốc này đơn trị liệu cùng chế độ ăn kiêng và vận động thể lực không kiểm soát được đường huyết thích đáng.
  • Kết hợp với metformin và một sulfamide hạ đường huyết hoặc một chất chủ vận PPARγ: Januvia được chỉ định ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 để cải thiện kiểm soát đường huyết bằng cách kết hợp với metformin và một sulfamide hạ đường huyết hoặc một chất chủ vận PPARγ khi hai loại thuốc này cùng chế độ ăn kiêng và vận động thể lực không kiểm soát được đường huyết thích đáng.
  • Kết hợp với insulin: Januvia được chỉ định ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 như liệu pháp hỗ trợ cho chế độ ăn kiêng và vận động thể lực để cải thiện kiểm soát đường huyết khi dùng kết hợp với insulin (cùng hoặc không cùng với metformin).

Dược lực học

  • Januvia thuộc nhóm thuốc uống trị tăng đường huyết, gọi là chất ức chế dipeptidyl peptidase 4 (DPP-4) có tác dụng cải thiện đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 bằng cách làm tăng nồng độ các hormone incretin thể hoạt động. Các hormone incretin bao gồm peptide giống glucagon 1 (GLP-1) và polypeptide kích thích tiết insulin và phụ thuộc vào glucose (GIP), luôn được phóng thích từ ruột, và tăng nồng độ khi có thức ăn.
  • Các hormone incretin này là thành phần của hệ thống nội sinh tham gia vào sự điều hòa sinh lý tình trạng cân bằng nội môi glucose. Khi nồng độ glucose tăng cao, GLP-1 and GIP làm tăng sự tổng hợp và phóng thích insulin từ các tế bào beta tuyến tụy qua các đường truyền tín hiệu nội bào liên kết với AMP vòng. Sự hấp thu và sử dụng glucose tại mô gia tăng khi nồng độ insulin cao hơn.
  • Ngoài ra, GLP-1 làm giảm tiết glucagon từ tế bào alpha tuyến tụy. Nồng độ glucagon giảm cùng với nồng độ insulin cao hơn dẫn đến giảm sản xuất glucose tại gan, gây giảm nồng độ glucose trong máu. Các tác dụng này của GLP-1 và GIP phụ thuộc vào glucose, vì vậy khi nồng độ glucose trong máu thấp, sự kích thích phóng thích insulin và ức chế tiết glucagon do GLP-1 không xảy ra. Đối với cả hai GLP-1 và GIP, khi nồng độ glucose cao hơn mức bình thường thì sự kích thích phóng thích insulin gia tăng. Hơn nữa, GLP-1 không làm suy giảm đáp ứng bình thường của glucagon đối với tình trạng đường huyết thấp.
  • Hoạt tính của GLP-1 và GIP bị hạn chế bởi enzyme DPP-4, đây là enzyme nhanh chóng thủy phân các hormone ineretin thành các chất không hoạt tính. Sitagliptin ngăn ngừa DPP-4 thủy phân các hormone incretin, do đó làm tăng nồng độ các dạng hoạt tính của GLP-1 và GIP trong huyết tương. Bằng cách tăng nồng độ incretin dạng hoạt động, sitagliptin làm tăng phóng thích insulin và giảm nồng độ glucagon theo cách thức phụ thuộc vào glucose. Ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có tình trạng tăng đường huyết, sự thay đổi nồng độ insulin và glucagon này dẫn đến giảm nồng độ hemoglobin A1c (HbA1c) và nồng độ glucose lúc đói và sau khi ăn.
  • Cơ chế phụ thuộc vào glucose này khác biệt với cơ chế tác dụng của các sulfamide hạ đường huyết; các sulfamide hạ đường huyết làm tăng tiết insulin ngay cả khi nồng độ glucose thấp và có thể dẫn đến hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 và ở đối tượng bình thường. Sitagliptin là 1 chất ức chế mạnh, chọn lọc cao trên enzyme DPP-4 và không ức chế các enzyme liên quan gần là DPP-8 hoặc DPP-9 ở các nồng độ điều trị.

Dược động học

Hấp thu

  • Sinh khả dụng tuyệt đối khoảng 87%. Do uống thuốc trong bữa ăn nhiều chất béo không ảnh hưởng đến tác động lên dược động học của Januvia dùng cùng lúc nên có thể dùng thuốc cùng hoặc không cùng với thức ăn.
  • Phân bố
  • Thể tích phân bố trung bình ở trạng thái bền vững sau khi dùng một liều đơn sitagliptin 100 mg đường tĩnh mạch ở đối tượng khoẻ mạnh khoảng 198 L. Tỷ lệ thuốc gắn kết thuận nghịch với protein huyết tương thấp (38%).

Chuyển hoá

  • Sitagliptin được đào thải chủ yếu trong nước tiểu ở dạng không đổi và một phần nhỏ qua đường chuyển hoá. Gần 79% sitagliptin được thải trong nước tiểu ở dạng không đổi.
  • Sau khi uống 1 liều sitagliptin có đánh dấu [14C], khoảng 16% chất có tính phóng xạ là các chất chuyển hóa của sitagliptin. Sáu chất chuyển hóa này được phát hiện ở nồng độ vết và được cho là không liên quan đến hoạt tính ức chế DPP-4 huyết tương của sitagliptin. Những nghiên cứu in vitro đã chứng minh enzyme chủ yếu chịu trách nhiệm cho sự chuyển hóa hạn chế của sitagliptin là CYP3A4, với sự góp phần của CYP2C8.

Thải trừ

  • Sau khi các đối tượng khỏe mạnh uống một liều sitagliptin [14C], khoảng 100% chất có tính phóng xạ được thải trong phân (13%) hoặc nước tiểu (87%) trong 1 tuần dùng thuốc. Thời gian bán thải cuối cùng biểu kiến sau khi
uống 1 liều sitagliptin 100 mg xấp xỉ 12,4 giờ và sự thanh thải qua thận khoảng 350 mL/phút.
  • Sitagliptin được đào thải chủ yếu qua thận với sự bài tiết chủ động qua ống thận. Sitagliptin là một chất nền của chất chuyên chở anion hữu cơ 3 ở người (hOAT-3), vốn là chất có thể tham gia vào sự thải trừ sitagliptin qua thận. Vẫn chưa xác định được sự liên quan lâm sàng của hOAT-3 trong vận chuyển sitagliptin. Sitagliptin cũng là một chất nền của p-glycoprotein, mà chất này cũng có thể tham gia vào quá trình đào thải sitagliptin qua thận. Tuy nhiên, cyclosporine, một chất ức chế p-glycoprotein không làm giảm sự thanh thải sitagliptin qua thận.
Thuốc Januvia 50mg MSD hỗ trợ chế độ ăn kiêng, cải thiện kiểm soát đường huyết

Cách dùng

Cách dùng

  • Thuốc dùng đường uống, có thể uống cùng hoặc không cùng với thức ăn và đồ uống.

Liều dùng

  • Liều khuyến cáo là 100 mg x 1 lần/ngày khi dùng đơn trị liệu hoặc kết hợp với metformin, sulfamide hạ đường huyết, insulin (cùng hoặc không cùng với metformin), chất chủ vận PPARγ (thiazolidinediones), hoặc metformin cùng sulfamide hạ đường huyết hoặc có thể dùng metformin cùng chất chủ vận PPARγ.
  • Khi dùng Januvia kết hợp với sulfamide hạ đường huyết hoặc insulin, có thể xem xét dùng sulfamide hạ đường huyết hoặc insulin liều thấp hơn nhằm giảm nguy cơ hạ đường huyết đo sulfamide hạ đường huyết.
  • Bệnh nhân suy thận: Vì có sự điều chỉnh liều lượng dựa trên chức năng thận, nên đánh giá chức năng thận trước khi bắt đầu dùng Januvia và định kỳ sau đó.
  • Bệnh nhân suy thận nhẹ (60 mL/phút/1,73 m2 ≤ tỷ lệ lọc cầu thận ước tính [eGFR] < 90 mL/phút/1,73 m2): Không cần chỉnh liều.

  • Bệnh nhân suy thận trung bình (45 mL/phút/1,73 m2 ≤ eGFR < 60 mL/phút/1,73 m2): Không cần chỉnh liều.
  • Bệnh nhân suy thận trung bình (30 mL/phút/1,73 m2 ≤ eGFR < 45 mL/phút/1,73 m2): 50 mg x 1 lần/ngày.
  • Bệnh nhân suy thận nặng (15 mL/phút/1,73 m2 ≤ eGFR < 30 mL/phút/1,73 m2) hoặc có bệnh thận giai đoạn cuối (eGFR < 15 mL/phút/1,73 m2), bao gồm các bệnh nhân cần thẩm tách máu hoặc thẩm phân phúc mạc: 25 mg x 1 lần/ngày. Có thể dùng Januvia bất kỳ lúc nào, không liên quan đến thời điểm tách máu.

Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.

Làm gì khi dùng quá liều?

  • Trong trường hợp quá liều, nên áp dụng các biện pháp hỗ trợ thường dùng, như loại bỏ chất chưa kịp hấp thu khỏi đường tiêu hoá, theo dõi trên lâm sàng (bao gồm điện tâm đồ) và trị liệu nâng đỡ nếu cần.
  • Sitagliptin có thể được thẩm tách vừa phải. Trong các nghiên cứu lâm sàng, khoảng 13,5% liều dùng được loại bỏ sau 3–4 giờ thẩm phân máu. Vẫn chưa biết rõ thẩm phân phúc mạc có thể thẩm tách được sitagliptin hay không.

Làm gì khi quên 1 liều?

  • Nếu bạn quên một liều, dùng liều đã quên ngay khi bạn nhớ ra. Nếu bạn không nhớ cho đến thời điểm dùng liều tiếp theo của bạn, bỏ qua liều đã quên và quay trở lại lịch dùng thuốc thường lệ của bạn. Không dùng gấp đôi liều thuốc.

Tác dụng phụ

  • Khi sử dụng thuốc Januvia 50 mg, bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR).

Thường gặp, ADR > 1/100

  • Chuyển hoá: Hạ đường huyết.
  • Thần kinh: Đau đầu.
  • Tiêu hoá: Táo bón.

Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100

  • Da: Ngứa.
  • Không xác định tần suất
  • Miễn dịch: Phản ứng quá mẫn bao gồm phản ứng phản vệ.
  • Tiêu hoá: Nôn, viêm tuỵ cấp, viêm tuỵ xuất huyết và hoại tử gây tử vong và không gây tử vong.
  • Da và mô dưới da: Phù mạch, phát ban, mày đay, viêm mao mạch, các bệnh lý tróc da, hội chứng Stevens–Johnson, bóng nước pemphigoid.
  • Cơ xương và mô liên kết: Đau khớp, đau cơ, đau lưng.
  • Thận–tiết niệu: Suy thận cấp.

Hướng dẫn cách xử trí ADR

  • Khi gặp tác dụng phụ của thuốc, cần ngưng sử dụng và thông báo cho bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.

Bảo quản

  • Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30ºC (86ºF).
  • Giữ Januvia và tất cả các thuốc tránh xa trẻ em.

Sản phẩm liên quan

Giỏ hàng